有 chỉ mức đạt tới: 有 + số lượng + tính từ ; A 有 B 这么/那么 + tính từ
有 (yǒu) còn dùng để nói một vật “đạt tới” mức nào đó. Mẫu 1: 有 + số lượng + tính từ đo lường (高, 长, 大, 远): 这条路有五公里长. Mẫu 2: A 有 B 这么/那么 + tính từ để so sánh “A
什么的 (shénme de) – vân vân, các loại như vậy
什么的 (shénme de) đứng cuối phần liệt kê để nói còn những thứ cùng loại, giống “vân vân”, “gì đó”. Dùng nhiều trong khẩu ngữ, thường sau một đến ba mục. 什么的 luôn
不一会儿 (bù yíhuìr) – chẳng bao lâu sau
不一会儿 (bù yíhuìr) nghĩa là sau một lúc rất ngắn, “một lát sau, chẳng bao lâu”. Dùng để kể việc đã xảy ra. Thường đi với 就 ở sau: 不一会儿他就来了. Không dùng cho việc ở
还是…吧 (háishi… ba) – tốt hơn là…, hay là… đi
还是…吧 (háishi… ba) đưa ra đề nghị sau khi cân nhắc, nghĩa là “hay là… đi”, “tốt hơn là…”. 还是 đặt trước động từ, 吧 đặt cuối câu làm lời đề nghị mềm hơn. Nó chọn m
…的话 (dehuà) – nếu như…, trong trường hợp…
的话 (dehuà) đặt cuối vế giả thiết, nghĩa là “nếu như, nếu mà”. Vế đầu có 如果 hoặc không đều được. Ví dụ 你累的话 (nếu bạn mệt). Vế sau thường có 就, giống cấu trúc 如果…
只要…就… (zhǐyào… jiù…) – chỉ cần… là…
只要 (zhǐyào) nêu điều kiện đủ: chỉ cần có điều kiện này là có kết quả, giống “chỉ cần… là…”. Vế sau thường dùng 就, đứng sau chủ ngữ. 只要 nhấn “thế là đủ”, khác 只有
因为…所以… (yīnwèi… suǒyǐ…) – vì… nên…
因为 (yīnwèi) nêu nguyên nhân, 所以 (suǒyǐ) nêu kết quả, giống “vì… nên…”. Có thể dùng cả cặp hoặc chỉ một từ. 所以 là liên từ, đứng đầu vế kết quả, trước chủ ngữ. 因为
不但…而且… (búdàn… érqiě…) – không những… mà còn…
不但 (búdàn) và 而且 (érqiě) nối hai ý tăng dần, ý sau mạnh hơn ý trước, giống “không những… mà còn…”. Nếu hai vế cùng chủ ngữ thì chủ ngữ đặt trước 不但; nếu khác ch
当 (dāng) – khi, vào lúc
当 (dāng) là giới từ chỉ thời điểm hoặc hoàn cảnh xảy ra việc gì, gần với “khi” trong tiếng Việt. Thường đi với 的时候: 当我到家的时候 (khi tôi về đến nhà). Khi nói nhanh,
或者 (huòzhě) – hoặc, hay là (câu trần thuật)
或者 (huòzhě) nối hai lựa chọn trong câu trần thuật hoặc lời đề nghị: “A hoặc B, cái nào cũng được”. Còn trong câu hỏi, người nói muốn người nghe chọn một thì dùn